Đau bao tử hiện đang là căn bệnh cực kỳ phổ thông
1. Ợ
Ợ không phải là một dấu hiệu bệnh lý tầm quan trọng nhưng lại gây nhiều khó chịu và phiền phức cho người không khỏe. Người bệnh có các diễn tả của ợ gây ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt thường này đều có do: rối loạn vận động bao tử (lỗ tâm vị đóng không kín) hay do thức ăn ghi lại trong dạ dày quá lâu bị lên men và sinh hơi. Bệnh nhân có thể ợ hơi hoặc ợ chua hay ợ ra chất đắng như mật. Thức ăn hoặc hơi đều có lên tân ở họng trợ giúp người bệnh cảm giác được vị đắng hay chua, nhưng cũng có khi không lên tận tại mà chỉ lên nửa chừng, ngưởi sức khỏe yếu chỉ cảm giác đau sau mũi ức hay đau sau xương ức.
duyên do của hiện tượng ợ bao gồm: bệnh lý dạ dày: viêm loét bao tử tá tràng, ung thư bao tử rối loạn chức năng cơ vòng tâm vị; các bệnh lý ngoai bao tử như các bệnh lý về gan gây chức nang gan kém hay các thương tổn gây tắc ruột.
2. Đau thượng vị
Đây là dấu hiệu tầm quan trọng và thường có tại tất thảy các bệnh nhân mắc bệnh lý bao tử tá tràng.
Bệnh nhân thường cảm giác đau ngay tại thượng vị, ngay dưới mũi ức hoặc cách xa mũi ức lệch về bên phải hoặc bên trái. Cảm thấy đau tùy thuộc vào người không khỏe, có người cảm giác đau tức, có người cảm giác đau rát bỏng hay nóng, hay đau âm ỉ, Vậy nhưng ngưởi sức khỏe yếu không có cảm giác đau quặn. Cơn bão tố đều có lên ngực hay lan ra sau lưng hoặc không lan. Thời gian đau tùy thuộc vào thời gian mắc bệnh của người ốm, trong thời kỳ đầu người không khỏe thường có cơn giông tố kéo dài một tới hai tuần, đau thường tái đi tái lại và bệnh nhân thường dự báo được đợt đau tiếp chuyện theo (khi biến đổi thời tiết, chuyển vụ..). Lâu hơn bệnh nhân trở thành đau liên miên..
Một điều cần chú ý đối với bệnh nhân mắc bệnh dạ dày tá tràng là cơn đau thượng vị thường có tính chất chu kỳ và có liên tưởng tới bữa ăn. Đau thượng vị có tính chất chu kỳ thường gặp trên bệnh loét dạ dày tá tràng, Tuy vậy đối với các bệnh lý như viêm dạ dày hay ung thư dạ dày, bệnh nhân thường đau bụng không có tính chất chu kỳ nữa mà đau miên man suốt cả ngày. Bữa ăn có ảnh hưởng rõ rết đến cơn bĩ cực thượng vị, bữa đau có thể làm tăng cơn bão tố hoặc khi ăn vào bệnh nhân lại cảm thấy cơn bão tố đỡ đi, ví dụ như bệnh nhân bị loét hành tá tràng: cơn bão tố thường xảy ra lúc đói, ăn một chút thức ăn (bánh quy, hay một ít cơm) bệnh nhân cảm thấy hết đau. Trái lại với bệnh nhân bị dau da day, loét bao tử, lúc đói bệnh nhân không cảm thấy đau thượng vị, nhưng khi ăn vào cơn bão tố thượng vị lại tăng lên.
3. Kém ăn
Kém ăn là một dấu hiệu đem tính chất chủ quan của người ốm, không đặc hiệu cho một bệnh lý ở một cơ quan nào. Khi bệnh nhân có dấu hiệu kém ăn có thể diễn đạt bởi ăn kém ngon hay giảm thiểu khối lượng thức ăn
Người ta chia ra 2 loại kém ăn
+ Kém ăn hạn chế lực- người không khỏe có cảm giác tiêu hoá chậm, sau khi ăn, bụng chướng căn, cảm thấy nặng nề ấm ách sau khi ăn.
+ Kém ăn tăng lực: người không khỏe sau khi ăn có cảm giác đau thượng vị, rát bỏng vùng thượng vị lan lên xương ức, nôn.
căn nguyên của kém ăn đầu tiên phải nghĩ tới là bệnh lý dạ dày ngoài ra các bệnh lý ngoài bộ máy tiêu hoá như bệnh nhân, bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là rối loạn tâm thần. Một trường hợp không thể thiếu của kém ăn nữa chứng kém ăn vô căn và lâu dài bệnh nhân đều có chết do suy mòn.
4. Chảy máu tiêu hoá
thông thường trong ống tiêu hoá không có máu, khi máu thoát ra khỏi thành mạch, chảy vào trong lòng ống tiêu hoá, lúc đấy gọi là chảy máu tiêu hoá. Thực là một dấu hiệu rất quan trọng do nhiều nguyên do gây ra, nó có thể ăn hiếp bắt nạt tính mệnh ngưởi sức khỏe yếu trong một thời gian rất ngắn một vài giờ thậm chí vài phút do đấy người không khỏe phải được đưa ngay tới cơ sở y tế để có biện pháp chữa trị kịp thời và tìm căn do gây ra chảy máu tiêu hoá.
Những dấu hiệu của chảy máu tiêu hoá:
– Nôn ra máu đỏ tươi, máu đen
– Đi ngoài ra máu đỏ tươi hay máu đen
– Các dấu hiệu cho thấy người ốm hoạt động trong tình yêu trạng chi ra máu cấp: choáng váng, hoa mắt chóng mặt, mạch nhanh huyết áp tụt.
Khi bệnh nhân bị chảy máu tiêu hoá, một trong những nguyên cớ phải nghĩ tới là bệnh lý tại dạ dày: viêm dạ dày cấp do thuốc, loét bao tử tá tràng, ung thư bao tử, hội chứng Malory Weiss, vỡ tĩnh mạch thưc quản do bị bệnh gan.
5. Nôn và buồn nôn
Nôn là hiện tượng người bệnh tống các chất chứa trong dạ dày ra ngoài đường mồm. Buồn nôn là cảm thấy muốn nôn nhưng không nôn ra được. Buồn nôn và nôn đều có đi đôi với nhau, nhưng cũng có khi chỉ có một dấu hiệu xảy ra bơ vơ.
Nôn nhiều sẽ dẫn tới hậu quả
– Rách thực quản
– Rách niêm mạc thực quản vùng tâm vị dẫn đến chảy máu (Hội chứng Mallory Weiss)
– tình ái trạng dành ra nước và điện giải do trong dịch dạ dày có chứa các điện giải Na, K và Ca, ngoài điện giải còn có các ion H+, Cl+ do đó còn dẫn tới tính tràng kiềm hoá máu.
– Hậu quả nặng hơn của tình trạng này là hạ huyết áp và truỵ tim mạch
– tình yêu trạng toàn thân gầy và sút cân chóng vánh dần dần dẫn tới suy mòn, thiếu máu, phù nề
Các bệnh ở bao tử góp phần quan trọng nhất trong duyên do gây ra nôn: viêm bao tử cấp, loét dạ dày tá tràng, ung thư bao tử, hẹp môn vị, chảy máu bao tử.
